RAS: tương lai của ngành nuôi tôm Việt Nam?

Email In PDF


Vượt qua khó khăn để đạt thắng lợi lớn, con tôm Việt Nam đã khẳng định vị thế trên trường quốc tế khi đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu và trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, đến nay chất lượng tôm giống, quản lý dịch bệnh và quy hoạch vùng nuôi, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu… vẫn là những thách thức lớn đặt ra khi phát triển ngành nuôi tôm. Theo kinh nghiệm từ các nước phát triển, cần phải có sự thay đổi mang tính cách mạng, chuyển từ hệ thống nuôi tôm mở sang hệ thống nuôi tôm kín, trong đó hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (Recirculating aquaculture system - RAS) được các chuyên gia nhận định là chìa khóa giúp giải quyết vấn đề đặt ra cho ngành nuôi tôm Việt Nam.

Cơ hội và thách thức cho ngành nuôi tôm Việt Nam
Ngành nuôi trồng thủy sản thế giới đã phát triển với những bước nhảy lượng tử (hoặc tốc độ tên lửa) trong hai thập niên vừa qua, đạt 70 triệu tấn/năm (2017), đóng góp hơn 50% sản lượng thủy sản của thế giới. Với mức tăng trưởng của đánh bắt thủy sản là 3%, nuôi trồng thủy sản là 33%, thì đến năm 2030 sẽ có 109 triệu tấn thủy sản từ nuôi trồng và 61 triệu tấn từ khai thác. Dự báo đến năm 2030, thế giới cần 232 triệu tấn thủy sản, trong khi tổng sản lượng đánh bắt sẽ giảm dần theo thời gian. Riêng đối với con tôm, nhu cầu tiêu thụ trên toàn cầu sẽ đạt khoảng 6,55 triệu tấn vào năm 2020, trong khi nguồn cung chỉ đạt 4,49 triệu tấn, thiếu hụt khoảng 2,06 triệu tấn, gấp gần 3 lần lượng tôm xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2017. Peter Drucker, chuyên gia hàng đầu về tư vấn quản trị và kinh tế học, một trong 4 nhà quản lý bậc thầy của mọi thời đại cho biết: “Nuôi trồng thủy sản, chứ không phải Internet, sẽ cho thấy cơ hội đầu tư tài chính hứa hẹn nhất trong thế kỷ XXI”.
Ở Việt Nam, sản lượng tôm sản xuất có sự gia tăng nhanh chóng, dần trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn mang lại doanh thu xuất khẩu lớn. Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 3,85 tỷ USD, tăng 22,3% so với năm 2016, được xem là một kỳ tích. Đồng bằng sông Cửu Long được mệnh danh là “vựa” thủy sản của cả nước, đóng góp gần 67% sản lượng nuôi trồng, 65% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Theo nhận định của các chuyên gia, ngành nuôi tôm Việt Nam đang có những cơ hội lớn để phát triển: Thứ nhất, con tôm của Việt Nam đã thâm nhập vào nhiều thị trường trên thế giới và sẽ phát triển hơn nữa khi Việt Nam gia nhập các hiệp định thương mại như CPTPP, FTA... Thứ hai, Việt Nam có thể tăng vượt bậc sản lượng tôm nhờ ứng dụng công nghệ cao. Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2, năng suất nuôi tôm thẻ chân trắng năm 2014 của Việt Nam đạt trung bình 3,62 tấn/ha/năm, nhưng điển hình có trang trại nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao ở Bạc Liêu đạt 240 tấn/ha/năm. Với diện tích nuôi trồng thủy sản hơn 1,1 triệu ha nhưng chỉ có gần 100000 ha nuôi tôm thẻ chân trắng cho thấy tiềm năng chuyển đổi diện tích, tăng mật độ nuôi để tăng năng suất và sản lượng tôm của Việt Nam là rất lớn.
Tại Hội nghị Phát triển ngành tôm Việt Nam được tổ chức tại Cà Mau tháng 2/2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo: Việt Nam phấn đấu trở thành một công xưởng sản xuất tôm của thế giới và Đồng bằng sông Cửu Long phải là thủ phủ của ngành công nghiệp nuôi trồng, chế biến tôm chất lượng cao trên toàn thế giới. Với tầm quan trọng đó, tháng 6/2017, tôm nước lợ (tôm sú, tôm thẻ chân trắng) đã được bổ sung vào Danh mục sản phẩm quốc gia (theo Quyết định số 787/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Đầu năm nay, Kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025 đã được ban hành (Quyết định số 79/QĐ-TTg ngày 18/1/2018). Có thể thấy rằng, với sự quyết tâm cao của Chính phủ, ngành tôm Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển thành ngành công nghiệp sản xuất lớn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái, mang lại lợi ích to lớn cho người dân, doanh nghiệp và kinh tế - xã hội của đất nước.
Bên cạnh những cơ hội, ngành nuôi tôm Việt Nam vẫn tồn tại nhiều thách thức như: chi phí sản xuất cao; năng lực cạnh tranh yếu; cơ sở hạ tầng kém phát triển; chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu; môi trường nước đầu vào để nuôi tôm ngày càng ô nhiễm do các chất thải công nghiệp và nông nghiệp chưa được xử lý; độ mặn của nước đầu vào khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có những biến đổi thất thường do tác động của các đập thủy điện thượng nguồn sông Mê Kông… Về cơ bản, Việt Nam đang thiếu mô hình nuôi tôm mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững, nên tỷ lệ nuôi tôm thành công chỉ đạt 33-35%, trong khi ở Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, tỷ lệ nuôi thành công tới 70-80%.
Có thể thấy rằng, hệ thống nuôi tôm mở như hiện nay đã không còn phù hợp, cần phải có sự thay đổi mang tính cách mạng, chuyển sang hệ thống nuôi tôm kín. Theo kinh nghiệm từ các nước phát triển, hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn RAS chính là chìa khóa giúp giải quyết vấn đề đặt ra cho ngành nuôi tôm Việt Nam.
Đôi nét về công nghệ RAS
RAS được phát minh bởi TS Saeki (Khoa Nông nghiệp, Đại học Tokyo, Nhật Bản) từ cuối thập niên 50 của thế kỷ XX để nuôi cá cảnh nước ngọt/mặn trong các bể nhỏ. Đến những năm 60, nhiều tiến bộ trong nghiên cứu vi sinh học và cải thiện vệ sinh môi trường của các bể lọc đã giúp cho RAS có tính thực tiễn cao hơn, tuy nhiên việc ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản còn hạn chế (chỉ sử dụng để nuôi lươn). Từ năm 1970, một số nước tiên tiến ở châu Âu và Hoa Kỳ đã nghiên cứu mở rộng sử dụng RAS sang các loại thủy sản khác. RAS được đánh giá là một trong các giải pháp nuôi trồng thủy sản bền vững, trở thành công nghệ được khuyến khích trong các văn kiện về chiến lược phát triển nuôi trồng thủy sản của Cộng đồng châu Âu. Các quốc gia không ngừng nghiên cứu, phát triển công nghệ để tích hợp vào hệ thống này. Tra cứu trên Google Scholar cho thấy, năm 1996 chỉ có 268 bài báo khoa học về công nghệ RAS, nhưng con số này tăng gấp gần 10 lần vào năm 2015 (2490 bài báo); nếu cả thập niên 90 của thế kỷ XX chỉ có 7 sáng chế về công nghệ RAS, thì trong giai đoạn 2010-2016 là 182 sáng chế.

ras 1
Hình 1. Cấu trúc cơ bản của hệ thống nuôi trồng thủy sản RAS.

Đến nay, trên thế giới có 3 loại RAS dành cho con tôm: 1) Hệ thống mương dài (raceway) được Addison Lawrence và các cộng sự phát triển tại Viện Hải dương học ở Florida của Hoa Kỳ từ năm 2000; 2) Hệ thống biofloc được đề xuất bởi GS. Yoram Avnimelech của Israel từ năm 2009; 3) Hệ thống sản xuất tôm trong nhà (Indoor Shrimp Production System - ISPS) của Nhật Bản. Về bản chất, 3 mô hình này đều có điểm chung là nước thải thoát ra từ bể nuôi được lọc cơ học để loại bỏ chất thải rắn, lọc sinh học, khử khí CO2, cấp thêm ôxy và diệt khuẩn bằng UV hoặc ozone, sau đó bơm tuần hoàn về bể nuôi. Công nghệ RAS sử dụng rất ít nước, chỉ cần 315 lít nước/kg tôm, thay vì 20.700 lít nước để sản xuất 1 kg thịt bò và 4.500 lít nước để sản xuất 1 kg thịt gà. Chất thải rắn cùng với các chất thải chăn nuôi khác có thể được xử lý thành khí sinh học; phân bón hữu cơ; nuôi một số loại cá, động vật giáp xác; trồng tảo dùng cho chế biến thực phẩm chức năng; trồng rong và một số loại thực vật chịu mặn khác... Do đó, RAS có thể kết hợp với cơ sở chăn nuôi, trồng rau và hệ thống năng lượng tái tạo (khí sinh học, gió, mặt trời…) thành một nông trại sinh thái hoàn hảo.
Công nghệ RAS yêu cầu diện tích nhỏ, tôm được nuôi trong bể có hệ thống cung cấp ôxy và xử lý triệt để các chất thải, nên có thể nuôi siêu thâm canh ở mật độ cao, đạt sinh khối tới 10 kg/m3 với tỷ lệ sống cao, hoàn toàn không phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết. Không chỉ linh hoạt trong việc chọn địa điểm nuôi (gần thị trường tiêu thụ để giảm chi phí vận chuyển, không cần phải gần biển…), việc duy trì lượng oxy tối ưu sẽ giúp quá trình tiêu hóa của tôm tốt hơn, giảm stress, tăng khả năng đề kháng với dịch bệnh, tôm lớn nhanh hơn. Việc kiểm soát tốt môi trường nước còn giúp công tác phòng bệnh hiệu quả hơn, tôm ít bị nhiễm bệnh, hạn chế sử dụng kháng sinh, cho ra những sản phẩm sạch có thể truy xuất nguồn gốc dễ dàng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường tiêu thụ.
RAS: tương lai của ngành nuôi tôm Việt Nam

ras 2
Hình 2. Mô hình nuôi tôm siêu thâm canh ở Bạc Liêu.

So với quy trình nuôi tôm truyền thống, hệ thống RAS dễ dàng tích hợp được các công nghệ tiên tiến của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như: in 3D, robot, các cảm biến, trí tuệ nhân tạo, thực tế tăng cường/thực tế ảo, thị giác máy tính, xử lý ảnh, Internet kết nối vạn vật… Đặc biệt, RAS được coi là giải pháp nuôi trồng thủy sản bền vững trong bối cảnh nhu cầu về thủy sản tăng mạnh và áp lực duy trì sự ổn định của hệ sinh thái, cũng như tính đa dạng sinh học ngày càng nghiêm ngặt. Điều đó giúp thị trường của các hệ thống RAS trên thế giới tăng mạnh. Dự kiến vào năm 2030 ngành nuôi trồng sẽ đáp ứng 62% nhu cầu về thủy sản, trong đó 40% sản lượng được cung cấp từ các hệ thống RAS.
Nhược điểm công nghệ RAS là chi phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng và chi phí vận hành cao nếu mua sắm thiết bị từ nước ngoài. Hệ thống này cũng đòi hỏi người vận hành có hiểu biết nhất định về cơ khí, tự động hóa, được đào tạo về vận hành và bảo trì, kỹ thuật nuôi trồng thủy sản và một số lĩnh vực liên quan. Cả 2 vấn đề này sẽ được giải quyết nếu Nhà nước đầu tư nghiên cứu, phát triển các hệ thống thiết bị RAS nội địa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh ở trong nước.
Đối với Việt Nam, việc ứng dụng RAS không thể chậm trễ hơn. Để tăng trưởng một cách bền vững, đạt kim ngạch xuất khẩu gấp 3 lần vào năm 2025, RAS cần được khẳng định là tương lai của nuôi trồng thủy sản Việt Nam nói chung, ngành nuôi tôm nói riêng. Theo mô hình của các nước tiên tiến, nếu diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng sử dụng công nghệ RAS của Việt Nam chiếm 2,5% (khoảng 18000 ha), sẽ mang lại doanh thu khoảng 9 tỷ USD (mỗi ha trung bình mang lại doanh thu 0,5 triệu USD/năm).
Trên thực tế, một số thiết bị của công nghệ RAS đã được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo tại Việt Nam, được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Các sản phẩm này mang lại hiệu quả vượt trội khi ứng dụng vào nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long. Điều đó cho thấy, Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng nghiên cứu làm chủ, chế tạo thành công các thiết bị RAS phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù ở trong nước, giúp giảm tối đa chi phí về công nghệ RAS trong tương lai gần. Đã đến lúc Chính phủ, các tổ chức/nhà khoa học và doanh nghiệp cần đưa ra chiến lược phù hợp cho công nghệ RAS, giúp đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu và phát triển RAS “Made in Vietnam”.

 PGS.TS Phạm Ngọc Tuấn1, PGS.TS Nguyễn Phú Hòa2
TS Phan Thanh Lâm3, TS Nguyễn Minh Hà4
1Hội Tự động hóa TP Hồ Chí Minh
2Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
3Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
4Trung tâm Phát triển Công nghệ và Thiết bị công nghiệp Sài Gòn

 

 

 

 

Hình ảnh hoạt động

Liên kết website