Tăng cường kiểm soát an toàn nợ công

Email In PDF

Nợ công (NC) là tình trạng phổ biến ở hầu hết các quốc gia do chi tiêu chính phủ vượt quá nguồn thu từ thuế. Theo tác giả bài viết, để NC luôn nằm trong “ngưỡng” an toàn theo quy định, thực sự giúp cho việc ổn định nền kinh tế, cần tăng cường việc kiểm soát NC bằng các biện pháp hữu hiệu và nhìn nhận NC một cách toàn diện trong mối tương quan với các yếu tố của nền kinh tế.

Thực trạng NC
Mặc dù trong những năm qua, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam luôn có những động thái khá quyết liệt để kiểm soát NC thông qua việc ban hành các văn bản mang tính pháp lý, song thực tế cho thấy NC của Việt Nam vẫn diễn biến tương đối phức tạp (bảng 1).
Bảng 1. Diễn biến NC của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017.

nocong 1

n.a: chưa có số liệu
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ [1-8])
Bảng 1 cho thấy, trong giai đoạn 2010-2017, quy mô NC tăng nhanh. Số tuyệt đối về NC của năm 2017 lớn gấp 2,69 lần năm 2010. Tỷ lệ NC/GDP có sự gia tăng khá nhanh từ mức 42,2% GDP (2010) lên 61,3% GDP năm 2017 (63,7% GDP năm 2016). Để đánh giá mức độ an toàn NC, cần quan sát các chỉ số sau:
Chỉ số nợ nước ngoài/GDP: bảng 1 cho thấy, tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017 luôn cao hơn so với ngưỡng an toàn được tính toán, thậm chí bắt đầu từ năm 2015-2017, tỷ lệ này luôn vượt gấp 2 lần ngưỡng an toàn và diễn biến tương đối đáng quan ngại. Nếu như năm 2010, tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP chỉ ở mức 28,7% thì đến năm 2017 đã tăng lên 49% (đạt mức 2,451 triệu tỷ đồng). Mặc dù mức này vẫn nằm trong “giới hạn an toàn” là 24,95% GDP (với mức tin cậy là 95%) thì khi nợ nước ngoài tăng thêm 1% thì tăng trưởng GDP sẽ bị sụt giảm 0,016%.
Một vấn đề khác cần phải chú ý là ngưỡng NC của một quốc gia so với GDP mục đích là để đánh trúng sức chịu đựng của một nền kinh tế. Khi chúng ta đi vay nợ để đầu tư phát triển có nghĩa là khu vực đầu tư nước ngoài sẽ có đóng góp khá lớn trong quy mô GDP hàng năm và do đó nên thận trọng trong việc đưa ra ngưỡng an toàn và phải có sự kết hợp chặt chẽ với kiểm soát chỉ tiêu nợ Chính phủ/GDP.
Về chỉ số nợ Chính phủ/GDP: đầu tư công có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia, đặc biệt với các quốc gia đang phát triển bởi nó đưa ra những tín hiệu lạc quan đối với nền kinh tế cũng như đưa ra các định hướng phát triển ưu tiên trong nền kinh tế - xã hội. Nó càng đặc biệt quan trọng trong các giai đoạn nền kinh tế phải đối mặt với các nguy cơ khủng hoảng. Tại Việt Nam, trong giai đoạn “gối đầu khủng hoảng tài chính toàn cầu” những năm trước đây, đầu tư công đã được Chính phủ đẩy mạnh nhằm kiến tạo môi trường tích cực để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Có thể khẳng định rằng, đầu tư công có tầm quan trọng đặc biệt đối với thành tựu tăng trưởng kinh tế của chúng ta trong thời gian qua. Trong các hạng mục đầu tư công, đầu tư từ ngân sách nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao, dẫn đến nợ Chính phủ/GDP luôn khá cao (bắt đầu từ năm 2015, tỷ lệ nợ Chính phủ/GDP luôn trên 50% GDP). Cụ thể: năm 2015, tỷ lệ nợ Chính phủ/GDP là 50% (tương đương 2.098 nghìn tỷ đồng); năm 2016 đạt mức 52,6% (tương đương 2.369 nghìn tỷ đồng); năm 2017 ước đạt mức 51,8% (tương đương 2.590 nghìn tỷ đồng) [10]. Tuy chỉ số này vẫn thấp hơn “ngưỡng” nợ Chính phủ/GDP quy định nhưng rõ ràng với chỉ số quy mô nợ Chính phủ quá lớn và đang có xu hướng tăng nhanh những năm gần đây là điều rất đáng quan tâm.
Về nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ/thu ngân sách: chỉ số này phản ánh các áp lực trả nợ của Chính phủ như thế nào qua từng năm. Bảng 1 cho thấy các áp lực trả nợ gia tăng nhanh từ sau 2012. Đối chiếu với quy định thì ngưỡng an toàn của chỉ tiêu này không được tuân thủ từ sau 2013 (luôn vượt ngưỡng 25%).
Về nguồn vốn thực hiện nghĩa vụ trả nợ hàng năm: về nguyên lý, Chính phủ có thể sử dụng nhiều nguồn khác nhau để thanh toán các khoản nợ gốc và lãi đến hạn. Tuy nhiên, qua các số liệu được công bố cho thấy nguồn trả nợ gốc hàng năm lại chủ yếu đến từ các khoản vay nợ mới, thậm chí một số khoản vay bị chậm trả nợ. Trong thời gian qua, chúng ta mới trả nợ phần lãi, còn hầu hết các khoản nợ gốc buộc phải cơ cấu lại bằng cách vay nợ mới trả nợ cũ (đảo nợ): nếu như 2013, ngân sách phải vay đảo nợ 47.000 tỷ đồng thì đến năm 2017 là 144.000 tỷ đồng và theo đó, năm 2018 cần 146.770 tỷ đồng cho việc đảo nợ. Lý do là các khoản vay bù đắp thâm hụt ngân sách trước đây thường có thời gian ngắn, lãi suất cao, nên thời gian đáo hạn rất nhanh, trong khi đó việc cân đối ngân sách vẫn rất khó khăn, chủ yếu vẫn theo kiểu “giật gấu vá vai” nên phải tìm cách đảo nợ [10]. Cần lưu ý rằng, trước năm 2012, do tình trạng lạm phát cao nên Chính phủ phải đi vay với lãi suất cao, đồng thời, do tình trạng lạm phát cao trong nền kinh tế trong giai đoạn này cũng đã khiến Chính phủ rất khó khăn để đi vay với kỳ hạn dài hơn. Cho nên, việc đảo nợ sẽ giúp giảm áp lực trả nợ của ngân sách, đồng thời nó cũng góp phần làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia vì giảm được lãi suất đi vay bình quân và kéo dài được danh mục trả nợ [10].

Khó khăn, thách thức đặt ra với việc ổn định và phát triển trong điều kiện NC
NC luôn là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, khi nó là vấn đề mang tính chất “chu kỳ”,
hơn nữa, nó luôn tiềm ẩn các nhân tố gây “bất an” cho nền kinh tế - xã hội. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, NC cao luôn kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế, thậm chí có thể đưa nền kinh tế phải đối mặt với các thách thức nghiêm trọng. Chính vì vậy, các quốc gia đều phải đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm kiểm soát hiệu quả NC. Đối với Việt Nam, có thể thấy, hệ thống các quy định pháp lý về quản lý NC là đồng bộ và chặt chẽ, tạo thuận lợi cho việc tăng cường công tác quản lý NC. Quyết tâm của Chính phủ cũng đã được khẳng định trong Chiến lược NC và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030: “Từng bước giảm dần NC, đến năm 2030 NC không quá 60% GDP, trong đó nợ Chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài không quá 45% GDP. Tuy vậy, các số liệu đã được đề cập cho thấy, NC của Việt Nam vẫn diễn ra khá phức tạp, tạo ra một số thách thức đối với sự ổn định và phát triển của kinh tế - xã hội như sau:
Một là, sự gia tăng chi tiêu công thường khiến thâm hụt ngân sách gia tăng, gây khó khăn trong việc kiểm soát NC. Sự gia tăng chi tiêu công làm tổng chi tiêu trong nước lớn hơn so với sản lượng trong nước. Khi việc tăng sản lượng trong nước không tăng kịp với mức tăng của tổng chi tiêu thì sẽ phải tăng cầu nhập khẩu, khi đó sẽ tạo ra một sự dịch chuyển ngược của dòng tài sản ra nước ngoài, đồng nghĩa với việc quốc gia sẽ phải trả ngoại tệ cho nước ngoài. Lượng ngoại tệ này có thể được nước ngoài sử dụng để mua chứng khoán hay bất động sản. Nghĩa là khi một quốc gia bị thâm hụt ngân sách sẽ trở thành nước nhập khẩu ròng hàng hóa, dịch vụ và xuất khẩu ròng tài sản, kết quả là lượng tài sản trong nước được người nước ngoài nắm giữ sẽ ngày càng nhiều hơn. Và khi thâm hụt ngân sách sẽ khiến giảm lượng cung vốn ở khu vực tư nhân, nguy cơ làm tăng lãi suất nội tệ và xảy ra 2 trường hợp: 1- Khi lãi suất nội tệ tăng sẽ thu hút dòng vốn quốc tế chảy vào, dẫn tới áp lực tăng giá nội tệ; 2- Khi đồng nội tệ lên giá lại gây trở ngại cho hoạt động xuất khẩu trong nước.
Hai là, tiềm ẩn tình trạng “thâm hụt kép”. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa khủng hoảng NC và khủng hoảng tiền tệ thông qua mối quan hệ giữa tình trạng tài khóa và cán cân vãng lai. Việc phát sinh thâm hụt ngân sách sẽ khiến cán cân vãng lai thâm hụt, kéo theo tình trạng nợ nước ngoài tăng lên, làm gia tăng khả năng khủng hoảng tiền tệ. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra bằng chứng khẳng định, chính sách tài khóa mở rộng làm tồi tệ hơn cán cân vãng lai. Chẳng hạn Roel Beetsma cùng cộng sự [11] nghiên cứu một số nước EU cho thấy khi tăng chi tiêu ngân sách lên 1% GDP sẽ làm thâm hụt cán cân thương mại tăng 0,5% GDP trong năm đầu và lên 0,8% sau 2 năm. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho thấy những bằng chứng thâm hụt kép (mặc dù chỉ về tác động) ở Anh, Úc và Canada. Kết quả tương tự trong nghiên cứu của Corsetti và Muller [12] cho thấy tác động của những cú sốc tài khóa lên cán cân vãng lai dường như lớn và kéo dài hơn trong nền kinh tế có tỷ trọng thương mại cao trong GDP (Canada và Anh) so với các nền kinh tế có tỷ trọng thương mại chiếm tỷ lệ nhỏ trong GDP (Mỹ và Úc). Nghiên cứu của Abiad, Leigh và Mody về các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân vãng lai cho 135 nước (giai đoạn 1975-2004) đã tìm ra hệ số tương quan của cán cân vãng lai với cán cân ngân sách là 0,3 [13]. Nghiên cứu của Mohammadi [14] sử dụng mẫu của 20 nước phát triển và 43 nước mới nổi, đang phát triển đã chỉ ra: một sự gia tăng chi tiêu dựa trên việc tăng thuế có thể khiến cán cân vãng lai thâm hụt từ 0,16-0,29% GDP (0,23-0,32% GDP cho các nước đang phát triển và 0-0,26% đối với các nước phát triển). Nếu khoản chi ngân sách được tài trợ bằng trái phiếu thì sẽ tăng thâm hụt cán cân vãng lai khoảng 0,45-0,72% GDP (0,55-0,81% GDP cho các nước đang phát triển và 0,22-0,5% cho các nước phát triển).
Tại Việt Nam, song song với tình trạng thâm hụt ngân sách, thì cán cân thương mại đã chuyển từ thặng dư nhỏ ở mức 1,2 tỷ USD năm 2000 sang thâm hụt khá lớn: 11 tỷ USD năm 2007, 10,7 tỷ USD năm 2008. Các năm 2012, 2013 và 2014 chuyển sang thặng dư, nhưng năm 2015 lại chuyển sang thâm hụt lớn (3,54 tỷ USD). Sau đó, tình trạng cán cân thương mại lại chuyển sang thặng dư lớn với mức 2,86 tỷ USD (2016) và 2,67 tỷ USD (2017). Tuy vậy, phải nhìn nhận một thực trạng đó là cán cân thương mại của Việt Nam những năm gần đây chủ yếu đo lường các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI với trọng số chiếm xấp xỉ 75%, vì vậy, mối quan hệ giữa tình trạng thâm hụt ngân sách với cán cân thương mại là rất mờ nhạt, hay nói cách khác, các hoạt động chi tiêu công của Chính phủ tác động không rõ ràng tới tình trạng của cán cân thương mại trong nước do các doanh nghiệp FDI hoạt động có tính chất độc lập tương đối. Đây chính là lý do giải thích tại sao thâm hụt ngân sách mang tính chất thường trực tại Việt Nam, song cán cân vãng lai vẫn có sự cải thiện theo chiều hướng tích cực. Hay nói cách khác, Việt Nam vẫn nên duy trì các chính sách tiếp tục tăng cường thu hút FDI nếu như không muốn các tác động tiêu cực từ hiệu ứng “thâm hụt kép” gây ra cho nền kinh tế do cân đối ngân sách chưa có chiều hướng cải thiện tích cực.
Ba là, vòng xoáy nợ - lạm phát. Mối quan hệ giữa NC và lạm phát chủ yếu được hình thành khi Chính phủ in tiền để tài trợ thâm hụt, làm gia tăng lượng tiền cơ sở và thúc đẩy giá cả leo thang. Hiện tượng này có thể thấy ở nhiều cuộc khủng hoảng lạm phát, tiêu biểu như là các giai đoạn lạm phát phi mã tại các nước thuộc châu Mỹ Latinh trước đây. Mặc dù từ đó đến nay, các nước đều không cho phép in tiền để tài trợ thâm hụt tài khóa, nhưng thực tế vẫn có những hình thức tài trợ tương tự (như mua trái phiếu…). Do đó, vòng xoáy nợ - lạm phát là vấn đề chúng ta cần hết sức lưu tâm khi xem xét và giải quyết vấn đề NC hiện hữu trong nền kinh tế.
Giải pháp quản lý an toàn NC
Từ nghiên cứu thực tiễn cũng như đối chiếu với các vấn đề mang tính chất nguyên lý trong xử lý NC, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý an toàn NC tại Việt Nam trong thời gian tới:
Thứ nhất, nghiên cứu lại “ngưỡng” an toàn NC nhằm bảo đảm NC không gây các tác động tiêu cực lâu dài đến sự phát triển ổn định vững chắc nền kinh tế. Hiện nay, ngoài ngưỡng xác định chính thống của Nhà nước thì cũng đã có khá nhiều nghiên cứu về NC và xác định ngưỡng NC, nhưng chúng tôi cho rằng, việc xem xét ngưỡng NC ở mức nào là “an toàn” cần phải toàn diện, trên cơ sở các tiêu chí về sự ổn định kinh tế vĩ mô, mức thâm hụt ngân sách nhà nước (không vượt quá 3% GDP), hiệu quả đầu tư công (hệ số ICOR thấp) cũng như các chỉ tiêu khác về “nợ ẩn”, trong đó đặc biệt là nợ xấu của các ngân hàng thương mại (dưới 3%), thâm hụt cán cân thương mại. Đặc biệt, cần lưu ý xác định ngưỡng vay nợ nước ngoài - chỉ tiêu này rất quan trọng trong kiểm soát NC bởi một số quốc gia mặc dù tỷ lệ NC không cao, nhưng do nợ nước ngoài cao nên đã rơi vào khủng hoảng kinh tế đầu thập niên 2000 (như Argentina).
Thứ hai, giảm đầu tư Chính phủ. Đầu tư Chính phủ có xu hướng kìm hãm đầu tư tư nhân, gây ra hiệu ứng mất không cho xã hội. Các khoản đầu tư của Chính phủ thường lấy từ thuế, nên khi Chính phủ quyết định tăng thu thuế để bù đắp thiếu hụt ngân sách sẽ gây hiệu ứng điều chỉnh lại mức thu nhập trong dân, tức là làm giảm thu nhập thuần của người dân. Khi thu nhập ròng giảm xuống sẽ khiến đầu tư tư nhân bị thu hẹp. Nếu như Chính phủ tăng thu thuế trong nền kinh tế làm thu hẹp đầu tư khu vực tư nhân, nhưng đầu tư của Chính phủ lại lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả sẽ làm suy giảm hiệu quả nguồn lực tài chính của xã hội. Đây chính là hiệu ứng làm mất không cho xã hội của đầu tư công. Hiệu ứng mất không này còn xảy ra đối với các khoản vay nợ nước ngoài (bởi khi Chính phủ đi vay nợ nước ngoài bằng các đồng ngoại tệ thì sẽ phải thường trực đối diện với các loại rủi ro lãi suất và tỷ giá do các biến số này thường xuyên biến động). Khi lãi suất hay tỷ giá thay đổi theo hướng bất lợi sẽ làm tăng gánh nặng trả nợ của ngân sách quốc gia.
Có thể thấy rằng, khi Chính phủ tăng cường vay nợ, đặc biệt là vay nợ trong nước, sẽ dẫn đến tình trạng tích lũy vốn tư nhân được thay thế bởi tích lũy nợ của Chính phủ. Thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp hay gửi tiền tiết kiệm ở các ngân hàng thương mại, người dân lại tăng cường sở hữu trái phiếu Chính phủ, làm cho cung về vốn giảm xuống trong khi cầu về tín dụng của Chính phủ tăng lên, từ đó gây hiệu ứng làm tăng lãi suất, tăng chi phí đầu tư, dẫn tới hiện tượng thoái lui đầu tư trong khu vực tư nhân. Chính vì vậy, để giảm thiểu các hiệu ứng tiêu cực từ sự gia tăng đầu tư công, thiết nghĩ Chính phủ nên hạn chế đầu tư công, sử dụng các nguồn lực thu về từ việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước để hỗ trợ các hoạt động khởi nghiệp khu vực tư nhân thông qua thành lập “Quỹ hỗ trợ đầu tư mạo hiểm quốc gia”.

PGS.TS Nguyễn Trọng Tài
Học viện Ngân hàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Tài chính (2017), Bản tin nợ công.
[2] Minh Anh (2017), Các chỉ số nợ công năm 2017 trong giới hạn an toàn, http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/nhip-song-tai-chinh/2017-11-07/cac-chi-so-no-cong-nam-2017-trong-gioi-han-an-toan-50096.aspx.
[3] Đinh Thị Nga (2013), “Khủng hoảng nợ công và giải pháp ngăn ngừa khủng hoảng nợ công ở Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, 4(204).
[4] Hoàng Đan (2016), Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ tăng nhanh, “vượt trần 25%”, http://soha.vn/nghia-vu-tra-no-cua-chinh-phu-tang-nhanh-vuot-tran-25-20161020182836406.htm.
[5] Trần Giang (2017), Nghĩa vụ trả nợ tăng vì nợ công có thể tăng lên 3,1 triệu tỷ đồng, http://danviet.vn/kinh-te/nghia-vu-tra-no-tang-vi-no-cong-co-the-tang-len-31-trieu-ty-dong-816392.html.
[6] N. Mạnh (2017), Nợ công đến cuối năm 2016 chiếm khoảng 63,7% GDP, https://baomoi.com/no-cong-den-cuoi-nam-2016-chiem-khoang-63-7-gdp/c/22367257.epi.
[7] Lan Nhi (2017), Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia đã vượt giới hạn cho phép, https://vietnambiz.vn/nghia-vu-tra-no-nuoc-ngoai-cua-quoc-gia-da-vuot-gioi-han-cho-phep-36670.html.
[8] Nguyễn Vũ (2018), Gánh nặng nợ nước ngoài, https://www.thesaigontimes.vn/277424/Ganh-nang-no-nuoc-ngoai.html.
[9] Vũ Hải Yến (2017), Xác định ngưỡng nợ bền vững cho các quốc gia mới nổi - Kinh nghiệm thế giới và gợi ý cho Việt Nam, Đề tài cấp Học viện Ngân hàng mã số DTHV.10/2016.
[10] Mạnh Bôn (2018), Nợ công đang được quản lý như thế nào? https://baodautu.vn/no-cong-dang-duoc-quan-ly-nhu-the-nao-d86226.html.
[11] Roel Beetsma, Massimo Giuliodori, Franc Klaassen (2010), The effects of public spending shocks on trade balances and budget deficits in the European union, https://doi.org/10.1162/JEEA.2008.6.2-3.414.
[12] Giancarlo Corsetti and Gernot Müller (2006), “Twin deficits: squaring theory, evidence and common sense”, Economic Policy, 21(48), pp.597-638.
[13] Abiad, Leigh, and Mody (2009), “Financial Integration, Capital Mobility, and Income Convergence”, Economic Policy, 24(58), pp.241-305.
[14] Mohammadi (2004), “Effect of operating parameters on Pb2+ saparation from wastewater using electrodialysis”, Desalination, 167, pp.379-385.

 

Ghi chú
1. Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07 ngày 18/11/2016 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý NC để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Năm 2009, Quốc hội ban hành Luật Quản lý NC, sau đó được bổ sung, chỉnh sửa vào năm 2017. Ngày 30/6/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý NC thay thế Nghị định số 79/2010/NĐ-CP ban hành ngày 14/7/2010. Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành 2 văn bản có liên quan: Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 phê duyệt Chiến lược NC và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến 2030; Quyết định số 544/QĐ-TTg ngày 20/4/2017 phê duyệt Chương trình quản lý nợ trung hạn 2016-2018.
2. Đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 và sau đó là khủng hoảng NC ở EU bắt đầu từ tháng 5/2009.
3. Cũng tương tự như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng NC cũng có tính chu kỳ. Theo nghiên cứu của Reinhard và Rogoff (2010), kể từ năm 1800-2009, trên thế giới trải qua 5 giai đoạn khủng hoảng NC: giai đoạn đầu tiên gắn với giai đoạn chiến tranh Napoleon; giai đoạn thứ 2 bắt đầu từ năm 1820 kéo dài đến cuối năm 1840. giai đoạn thứ 3 từ 1870-1890; giai đoạn thứ 4 bắt đầu từ cuộc đại khủng hoảng năm 1930 và kéo dài đến những năm 1950; Giai đoạn thứ 5 gắn với cuộc khủng hoảng nợ của các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế phát triển từ những năm 80 của thế kỷ XX và kéo dài đến nay.
4. Nghiên cứu của Reinhart và Rogoff (2010) cho thấy nhóm quốc gia có tỷ lệ NC/GDP cao, trung vị tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn 1 điểm % và trung bình tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn 4 điểm % so với các nước có tỷ lệ NC thấp.
5. Mô hình Ponzi cũng có thể xảy ra trong lĩnh vực công, theo đó NC chính là khoản mà Chính phủ phải trả để duy trì mô hình Ponzi của mình. Nếu NC quá lớn sẽ kìm chặt nền kinh tế của một quốc gia, khiến cho quốc gia đó và các thành phần trong đó dễ bị tổn thương trước những cú sốc, khủng hoảng (Tuấn Anh, 2016).
6. Lãi suất và tỷ giá thường xuyên chịu sự tác động bởi các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý… đặc biệt là chịu tác động rất mạnh từ chính sách tiền tệ của các nước phát triển.

 

 

 

 

Hình ảnh hoạt động

Liên kết website