Rào cản đối với phát triển dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam

Email In PDF

Định hướng công nghệ số là một xu hướng thực tế, rõ ràng đối với doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng. Trên thế giới và tại Việt Nam, sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh và hành vi khách hàng liên quan đến số hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng. Khách hàng luôn lựa chọn những ngân hàng có sản phẩm mới lạ, dịch vụ nhanh chóng, đơn giản, sử dụng dễ dàng bằng các thiết bị điện thoại di động, máy tính. Theo đuổi chiến lược phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng công nghệ số là lợi thế để trở thành các ngân hàng có khả năng cạnh tranh cao nhất và hướng tới khách hàng tốt nhất tại Việt Nam.

Xu thế phát triển công nghệ số hóa
Theo khảo sát của Asean Bank Forum, năm 2014 mới có 31 ngân hàng tại Việt Nam triển khai dịch vụ ngân hàng số, nhưng đến nay 100% các ngân hàng đã triển khai dịch vụ này. Hiện nay, dịch vụ ngân hàng số của các ngân hàng Việt Nam chủ yếu là dịch vụ ngân hàng điện tử cung cấp các dịch vụ thanh toán như: chuyển tiền nội bộ ngân hàng, chuyển tiền liên ngân hàng, chuyển tiền quốc tế, thanh toán định kỳ, thanh toán hóa đơn, thanh toán thuế, tra soát giao dịch trực tuyến, truy vấn thông tin, thanh toán mua hàng trực tuyến bằng ePAY... Với dịch vụ ngân hàng trực tuyến online (Internet Banking), khách hàng có thể dễ dàng sử dụng tất cả các dịch vụ ngân hàng mọi lúc, mọi nơi chỉ với một thiết bị được kết nối internet. Trong dịch vụ ngân hàng số hiện nay thì dịch vụ thanh toán qua thẻ được chú trọng nhất. Song song với phát triển dịch vụ, hạ tầng cơ sở kỹ thuật phục vụ cho thanh toán thẻ cũng được ngành ngân hàng áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất thế giới. Các ngân hàng đã chủ động đầu tư, áp dụng nhiều giải pháp công nghệ mới hiện đại như phát hành thẻ chip theo chuẩn EMV, xác thực OTP, sinh trắc học, QR code… tạo sự tiện lợi và an toàn hơn trong giao dịch thanh toán điện tử. Bên cạnh đó, ngành ngân hàng cũng quan tâm phát triển thanh toán POS trên thiết bị di động (mPOS), ứng dụng công nghệ hiện đại với chi phí thấp, dễ sử dụng và đảm bảo an toàn bảo mật, mở ra khả năng mới để phát triển nhanh các điểm chấp nhận thẻ (ĐCNT) quy mô nhỏ, tăng cường khả năng cung ứng dịch vụ cho khu vực nông thôn. Một số ngân hàng Việt Nam đã có những bước đi ban đầu trong việc hiện đại hóa, số hóa sản phẩm dịch vụ của mình, như xây dựng ngân hàng số, ứng dụng dữ liệu lớn BigData, ứng dụng công nghệ sinh trắc học…
Thuận lợi và khó khăn của việc phát triển dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam
Phát triển dịch vụ ngân hàng số ở Việt Nam có nhiều triển nhiều vọng nhưng để thành công cần xác định những thuận lợi, khó khăn và thách thức, từ đó đề xuất các chính sách và giải pháp phù hợp.
Về thuận lợi: Một là, công nghệ thông tin trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đang phát triển nhanh chóng và theo xu hướng ngày càng mở rộng hơn trên các thiết bị có kích thước không thay đổi. Công nghệ ảo hóa cho phép sử dụng điều chỉnh dung lượng tài nguyên phù hợp với yêu cầu của từng ứng dụng và thuận tiện trong quản lý, triển khai và sử dụng. Do vậy, năng lực xử lý của các hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin ngày càng tăng cao, đáp ứng được yêu cầu xử lý tập trung nhiều tác vụ ngân hàng. Bên cạnh đó, Chính phủ và các cấp, các ngành đã nhận thức và chỉ đạo để triển khai mạnh mẽ các giải pháp nhằm đáp ứng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng. Tại Việt Nam, ngành ngân hàng đã nhận thức rõ tầm quan trọng của cách mạng số đối với mọi lĩnh vực hoạt động. Hai là, hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông quốc gia đã được cải thiện đáng kể, cho phép thiết lập được hệ thống mạng WAN trên phạm vi toàn quốc với băng thông lớn và ổn định. Sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông đã tạo ra một mạng lưới viễn thông có sóng phủ hầu khắp cả nước. Theo khảo sát, đã có 55% dân số Việt Nam sử dụng điện thoại thông minh và nối mạng internet. Đây là tiền đề để các ngân hàng có thể kết hợp với các đối tác để phát triển các dịch vụ. Hiện nay, ước tính có trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng giao dịch điện tử, các hình thức giao dịch rất phong phú: email, văn bản điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử, thanh toán điện tử, thương mại điện tử, thanh toán qua các kênh ngân hàng điện tử. Ba là, ngành ngân hàng có những đặc điểm phù hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin như: tính hệ thống cao, liên kết chặt chẽ trong từng ngân hàng theo cả mô hình ngang, dọc, tạo thành mạng lưới cung cấp dịch vụ không chỉ bó hẹp trong phạm vi một ngân hàng, một quốc gia mà có tính liên kết toàn cầu. Dịch vụ thanh toán điện tử ở Việt Nam được phát triển bởi các ngân hàng và nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán vừa để giải quyết những hạn chế của tiền mặt với vai trò là một phương tiện thanh toán, vừa mang lại cơ hội mới để cải thiện tốc độ, tính an toàn, thuận tiện và các tính năng liên quan khác của thanh toán trong một môi trường kinh tế - xã hội đang thay đổi nhanh chóng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh sáng kiến về công nghệ và kinh doanh toàn cầu, đặc biệt là các công nghệ mới của CMCN 4.0 như trí tuệ nhân tạo, robot, IoT… đặt ra cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với Việt Nam khi nguồn lực về vốn, hạ tầng, nhân lực còn thiếu và yếu. Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia có tỷ lệ dân số trưởng thành có tài khoản ngân hàng thấp nhất khu vực Đông Nam Á, với chỉ 30,9% dân số trưởng thành có tài khoản tại tổ chức tài chính, trong khi con số này ở các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia và Malaysia lần lượt là 78,1%, 35,9% và 80,7%. Các dịch vụ tài chính trên di động tại Việt Nam vẫn đang ở những bước đầu phát triển với số lượng người có tài khoản ngân hàng trên di động lại thấp. Phần lớn dân số Việt Nam vẫn còn thói quen sử dụng tiền mặt. Tỷ lệ sử dụng thẻ nội địa để thanh toán ở Việt Nam rất thấp, một phần do thói quen sử dụng tiền mặt, một phần cũng do đặc điểm buôn bán nhỏ lẻ của người Việt Nam nên cả khách hàng và các chủ hộ kinh doanh đều chưa quen sử dụng máy POS, hơn nữa hệ thống máy POS cũng chưa được phân bố rộng rãi tại các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ. Mạng lưới chi nhánh ngân hàng đã phát triển trên khắp cả nước nhưng vẫn còn khá mỏng ở vùng sâu vùng xa, nông thôn, hải đảo. Độ bao phủ dịch vụ ngân hàng chưa đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước. Mạng lưới các tổ chức tín dụng, đặc biệt là tổ chức tín dụng cổ phần tập trung khá dày đặc ở khu vực đô thị, nhưng lại rất thiếu ở các địa bàn vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Sự hiểu biết về công nghệ và kiến thức tài chính của bộ phận lớn người Việt còn hạn chế nên việc triển khai các dịch vụ ngân hàng số hầu hết mới chỉ tập trung ở các thành phố lớn.
Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại trong nước đang phải đối mặt với viễn cảnh khủng hoảng kinh doanh do sự gia nhập của các công ty công nghệ toàn cầu trên thị trường tài chính. Sự gia nhập của các công ty Fintech dần dần chiếm thị phần trên thị trường tài chính do cung cấp dịch vụ rẻ và thuận tiện hơn (ví dụ: cho vay chuyên nghiệp P2P, chuyển tiền, thanh toán, quản lý tài sản... và các khách hàng mục tiêu mà không cần đến tín dụng, chứ không phải là khách hàng hiện tại của ngân hàng).
Đặc biệt, thách thức từ rủi ro dịch vụ ngân hàng số như các vụ tấn công an ninh mạng, phát tán virus, mã độc qua các ứng dụng, nguy cơ rò rỉ thông tin, dữ liệu khách hàng, giao dịch gian lận, lừa đảo trực tuyến cũng chính là những rào cản đối với phát triển dịch vụ ngân hàng số tại Việt Nam.
Giải pháp phát triển
Để đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng số ở Việt Nam, từ thực tiễn hoạt động, xin đề xuất một số vấn đề:
Thứ nhất, cần có khung khổ pháp lý để quản trị rủi ro dịch vụ ngân hàng số, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cả ngân hàng và khách hàng. Thúc đẩy (bằng biện pháp khuyến khích hoặc bằng các quyết định của chính quyền, tổ chức) để tăng số lượng tài khoản giao dịch cá nhân (bao gồm cả tài khoản tiền điện tử/tài khoản trả trước) mở tại các ngân hàng hoặc các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép (PSPs). Việc sử dụng tài khoản giao dịch rộng rãi, từ phương diện thanh toán, sẽ có một số tác động quan trọng cho cả các cá nhân được tiếp cận tới các dịch vụ tài chính và cho cả hệ thống thanh toán quốc gia của một đất nước. Dịch vụ thanh toán điện tử được phát triển bởi các ngân hàng và nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác vừa để giải quyết những hạn chế của tiền mặt với vai trò là một phương tiện thanh toán, vừa mang lại cơ hội mới để cải thiện tốc độ, tính an toàn, thuận tiện và các tính năng liên quan khác của thanh toán trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng.
Thứ hai, xây dựng và triển khai chiến lược phổ cập kiến thức tài chính quốc gia để nâng cao dân trí, giúp người dân hiểu biết và có kỹ năng để sử dụng các dịch vụ số, trong đó có dịch vụ ngân hàng số. Giáo dục tài chính cần được tiến hành ở cấp toàn diện như một chương trình quốc gia do Chính phủ tài trợ và ở từng ngân hàng theo cách cung cấp các khóa đào tạo thực tế nếu cần thiết như một phần của việc giới thiệu sản phẩm, đặc biệt đối với những khách hàng tiếp xúc lần đầu với các dịch vụ thanh toán điện tử và các công nghệ liên quan.
Thứ ba, các ngân hàng cần chủ động tìm hiểu, nắm bắt và triển khai ngay các kế hoạch để theo kịp xu hướng công nghệ và mô hình kinh doanh mới của kỷ nguyên CMCN 4.0, khi mà các sáng kiến công nghệ được thúc đẩy bởi cuộc cách mạng thông tin sẽ phá vỡ mô hình sản xuất và thương mại toàn cầu, do đó sẽ tác động sâu sắc đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Xây dựng, nâng cấp hoặc tận dụng các hạ tầng thanh toán (hạ tầng tài chính và công nghệ thông tin và truyền thông) một cách bền vững, an toàn, hiệu quả và có khả năng tiếp cận rộng rãi để hỗ trợ cho việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng số rộng hơn đến các đối tượng khách hàng rộng rãi hơn, kể cả những nơi hẻo lánh, xa xôi. Tăng cường khả năng hoạt động liên thông và tiếp cận các cơ sở hạ tầng hỗ trợ chuyển mạch, xử lý, bù trừ và quyết toán các phương tiện thanh toán cùng loại trong hệ thống ngân hàng để giảm bớt chi phí vật chất và mở rộng các hệ thống sẵn có phù hợp với quy định của pháp luật, nhằm thúc đẩy hiệu ứng của dịch vụ ngân hàng số. Hiện tại, các ngân hàng ở Việt Nam đều đang tập trung nguồn lực (vốn đầu tư, thiết bị và nhân lực) vào chương trình hiện đại hóa ngân hàng, trong đó căn bản là triển khai dự án CoreBanking để khai thác tối đa các tính năng, vận dụng công nghệ trong việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực quản lý điều hành.

Trần Thị Thanh Bích
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Hình ảnh hoạt động

Liên kết website