Giải pháp nào để giảm ngập nước cho TP Hồ Chí Minh?

Email In PDF

Hiện tượng ngập nước ở TP Hồ Chí Minh đã xảy ra từ lâu (trước năm 1975) và được xem như là căn bệnh “mạn tính”. Tuy nhiên, trong 20 năm trở lại đây diễn biến ngập ngày càng nghiêm trọng và phức tạp hơn, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của hàng triệu người dân. Vậy đâu là nguyên nhân và giải pháp nào để giải quyết vấn đề này?

 

Nguyên nhân nào gây nên “căn bệnh mạn tính” - ngập nước ở TP Hồ Chí Minh?
Hiện nay, ngập lụt là một trong những “vấn đề” của nhiều đô thị trên thế giới và có xu thế ngày càng nghiêm trọng hơn, đặc biệt dưới tác động của biến đổi khí hậu - nước biển dâng (BĐKH-NBD) và sự mở rộng nhanh các đô thị. Trong bản “Hướng dẫn quản lý tổng hợp rủi ro ngập lụt đô thị cho thế kỷ XXI” của Ngân hàng thế giới (2012) cho thấy, các sự kiện ngập đô thị tăng nhanh trong 40 năm qua, từ khoảng 20-50 sự kiện ở thập niên 1970-1980 lên đến 150-220 sự kiện ở thập niên 2000-2010. Các đô thị ở Việt Nam 30 năm qua cũng nằm trong tình trạng này.
Theo báo cáo, đến cuối năm 2017 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh còn khoảng 220 điểm ngập, chủ yếu do mưa hoặc mưa kết hợp triều cường, trong đó 171 điểm ngập ở những tuyến đường hoặc hẻm do quận, huyện quản lý (điểm ngập nhỏ) và 49 điểm ngập ở những tuyến đường lớn hoặc khu vực do Trung tâm Chống ngập nước TP Hồ Chí Minh quản lý (điểm ngập lớn). Thực trạng này đến từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan.


thuong ngapnuoc
Vị trí các điểm ngập nước (chấm đỏ) thường xuyên tại TP Hồ Chí Minh.

Nguyên nhân khách quan
Địa hình thấp, đỉnh triều cao và BĐKH: Nhiều khu vực của TP Hồ Chí Minh có mặt đất tự nhiên thấp (75% diện tích TP có cao độ dưới 2,0 m, đặc biệt nhiều khu vực chỉ ở cao độ 1,0-1,5 m), lại nằm trong vùng ảnh hưởng mạnh bởi thủy triều biển Đông nên hoàn toàn có thể bị ngập khi gặp đỉnh triều cao. Cao độ đỉnh trong thời kỳ triều cường ven biển Đông thường ở mức 1,4-1,5 m. Với ảnh hưởng mạnh của thủy triều từ biển Đông trong các pha triều cường đạt đỉnh, mực nước trong hệ thống sông rạch lên cao, không những gây ngập triều cho những vùng trũng thấp có cao độ dưới 1,5 m, mà còn khiến việc tiêu thoát nước đối với những vùng có cao độ 1,5-2,0 m, thậm chí trên 2,0 m cũng rất khó khăn. Trong khi đó, do BĐKH, nước biển ngày càng dâng cao, làm tăng nguy cơ gây ngập cho khu vực TP Hồ Chí Minh cả về tần suất và mức độ.
Mưa lớn: Mưa ngày và mưa trận ở TP Hồ Chí Minh tuy không lớn, nhưng do nằm trong khu vực ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều mạnh, nên dù mưa xảy ra bất kỳ thời điểm nào trong ngày đều có nguy cơ gặp triều cao. Hơn nữa, với hệ thống tiêu thoát nước còn hạn chế, thì nguy cơ ngập do chính mưa lớn cũng không hề nhỏ, đặc biệt ứng với các trận mưa theo tần suất thiết kế 50% (2 năm/lần), 1 giờ là 46,5 mm và 1 ngày là 75,8 mm. Vài năm gần đây, do BĐKH lượng mưa trận gây ngập có xu thế xuất hiện dày và nhiều hơn, kể cả những trận mưa trên 100 mm, thậm chí trên 150 mm.
Lũ trên sông chính: Ngay cả không xem xét ngập do lũ lớn gây ra, thì với lũ trung bình, nếu các hồ chứa thượng lưu xả lũ xuất hiện cùng mưa lớn hạ lưu, lưu lượng và mực nước sông tăng cao, lại vào kỳ triều cường, thì cũng gây ngập không nhỏ. Theo các tính toán, với khả năng tải của các đoạn sông hạ lưu, một khi các hồ thượng lưu xả lũ ở mức vừa phải cũng đều có nguy cơ gây ngập nước. Đối với sông Đồng Nai, nếu Trị An và Phước Hòa xả tổng lưu lượng trên 2.000 m3/s (qua tua bin phát điện và xả tràn), sẽ khiến khu vực các quận Thủ Đức, 9 và 2 đối diện với ngập. Đối với sông Sài Gòn, nếu hồ Dầu Tiếng xả lưu lượng 400-500 m3/s thì một số quận (Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Thạnh, Phú Nhuận, 12, 2 và 7), huyện (Củ Chi, Hóc Môn) sẽ bị ngập sâu nếu gặp triều cao.
Sự phối hợp bất lợi giữa các yếu tố: Khi lũ về gặp triều cường, khi triều cường gặp mưa lớn, khi lũ gặp triều cường và mưa lớn... đều là những tổ hợp bất lợi, làm tăng nguy cơ ngập và khiến tình trạng ngập nghiêm trọng và phức tạp hơn, đặc biệt đối với những vùng đất thấp, ven sông, tiêu thoát nước kém...
Nguyên nhân chủ quan
Ngoài những nguyên nhân khách quan, ngập và sự tăng nặng ngập ở TP Hồ Chí Minh còn do một số nguyên nhân chủ quan từ các hoạt động của con người, đó là:
Hệ thống tiêu thoát nước không đảm bảo: TP Hồ Chí Minh có hệ thống tiêu thoát nước (cống tiêu, cửa tiêu, kênh tiêu...) được hình thành qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trước năm 1954 (gồm các quận 1, 3, 5), có hệ thống tiêu thoát nước được xây dựng từ rất sớm, quy mô và chất lượng đảm bảo, song qua nhiều năm sử dụng không được bổ sung, sửa chữa, nên nhiều nơi giảm năng lực tiêu thoát, tăng nguy cơ gây ngập cục bộ; giai đoạn 1954-1975 (gồm các quận 6, 8, 10, Phú Nhuận, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình), hệ thống tiêu thoát nước ở một số khu vực được xây dựng khá tốt, nhưng hầu hết chỉ mới dừng ở hệ thống cống cấp I, II, chưa hoàn chỉnh hệ thống cống cấp III, IV nên khả năng tiêu thoát còn hạn chế. Ngoài ra, một số khu vực mới cũng chưa có hệ thống thoát nước. Thêm vào đó, trong một thời gian dài (từ năm 1975 đến nay), nhiều hệ thống cống không được bảo trì, thậm chí bị chôn lấp, bỏ hoang, không được lắp đặt thêm, nên cũng làm gia tăng nguy cơ ngập do mưa và triều; từ năm 1975 đến nay (gồm các quận 2, 7, 9, 12, Thủ Đức), hệ thống tiêu thoát nước tuy có phát triển nhưng nhìn chung vẫn không theo kịp tốc độ đô thị hóa. Một số hệ thống có quy mô không tương ứng với quy mô đô thị (tổng dân số, mật độ dân số, bố trí khu dân cư...). Một số hệ thống chỉ chú ý phát triển cống cấp II mà không chú trọng cống cấp I (trục tiêu chính) và cống cấp III, IV (từ hộ gia đình ra hẻm và từ hẻm ra đường chính). Nhiều khu dân cư mới hình thành theo dạng tự phát, lan rộng, hệ thống tiêu nước chắp vá không đủ năng lực tiêu thoát. Bên cạnh đó, những năm gần đây, một số huyện ngoại thành có xu thế phát triển khá nhanh nhưng hệ thống tiêu thoát nước chưa được chú trọng đúng mức, khiến tình trạng ngập nước do mưa, triều và lũ tăng nhanh.
Hệ thống sông rạch, ao hồ bị lấn chiếm, thu hẹp dần: Trong tiêu thoát nước đô thị, hệ thống sông, rạch (nguồn tiếp nhận nước tiêu và truyền dẫn ra bể tiêu chính), ao hồ (điểm tiếp nhận và lưu trữ tạm thời nguồn nước tiêu) là rất quan trọng. Về nguyên tắc, tổng khả năng tiếp nhận và vận chuyển của hệ thống này phải bằng hoặc lớn hơn khả năng thoát của tất cả các hệ thống tiêu nội vùng. Tuy nhiên trong nhiều năm qua, không những một số sông, rạch bị lấn chiếm, thu hẹp và biến mất, mà còn nhiều diện tích ao hồ, đầm lầy, vùng trũng ngập nước ở TP Hồ Chí Minh cũng bị san lấp. Đặc biệt, khu vực quận 7 là nơi trũng thấp, mật độ sông rạch cao, đóng vai trò rất quan trọng đối với khả năng tiêu thoát nước cho toàn TP, nhưng đã dành phần lớn diện tích cho phát triển đô thị, san lấp và lấn chiếm nhiều đoạn sông, rạch, ao hồ, đầm lầy... Thống kê cho thấy, có khoảng 30% diện tích với hơn 100 kênh, rạch (khoảng 4.000 ha) đã bị lấn chiếm. Ngoài ra, do ý thức của người dân chưa cao, thường có những hành vi như xả rác bừa bãi ra đường, kênh rạch, đường ống tiêu thoát nước, xây nhà lấn chiếm cống, làm cho việc tiêu thoát nước càng khó khăn thêm.
Tầm nhìn về quản lý và phát triển đô thị còn hạn chế: Đối với một đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh, tầm nhìn chiến lược là cực kỳ quan trọng, vì nó quyết định đến sự bố trí và phát triển các khu dân cư, hệ thống giao thông thủy/bộ và hệ thống tiêu thoát nước. Tuy nhiên, ngay từ khi tiếp quản cho đến cả quá trình phát triển sau này, TP chưa chú trọng xếp đặt “con người” thật phù hợp với yêu cầu này, đặc biệt là các vị trí liên quan đến “ngập”. Việc phát triển về hướng các quận 7, 8, Nhà Bè...; việc san lấp các sông, rạch và ao, hồ; việc chưa chú trọng đúng mức phát triển “phần chìm” (hệ thống tiêu thoát nước) so với phần nổi (nhà cửa, đường sá...) thể hiện rõ điều này. Quản lý đô thị cũng còn nhiều yếu kém do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Ngoài ra, với mục tiêu giải quyết đồng bộ cả ngập và ô nhiễm nguồn nước (do nước mưa, nước thải sinh hoạt và sản xuất cùng chung hệ thống) càng làm cho bài toán phức tạp hơn.
Sụt lún mặt đất do đô thị hóa và mật độ xây dựng quá cao: Kết quả đo kiểm mốc độ cao trong 2 năm (2014-2015) của Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cho thấy, khu vực TP Hồ Chí Minh đang diễn ra tình trạng lún sụt với tốc độ hơn 1,0 cm/năm trên một khu vực rộng lớn khoảng 240 km2 (huyện Bình Chánh, nam quận Bình Tân, quận 8, quận 7, đông quận 12, tây quận Thủ Đức và bắc huyện Nhà Bè). Cá biệt, vài nơi ở huyện Bình Chánh trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2015, tốc độ lún trung bình lên đến 5-7 cm/năm.
Những vấn đề đặt ra trong việc chống ngập nước ở TP Hồ Chí Minh
Trước tình trạng ngập nước ngày một gia tăng, nhiều quy hoạch tổng thể thoát nước, dự án chống ngập nước do các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế hỗ trợ đã được thực hiện. Tuy nhiên, trước những tồn tại, hạn chế và khó khăn khi thực hiện và triển khai các quy hoạch chống ngập nước cho TP Hồ Chí Minh, có thể thấy một số vấn đề cần được thảo luận như sau:
Một là, quản lý đô thị và phát triển đô thị còn nhiều yếu kém, chưa theo kịp với yêu cầu thoát nước, như dân số tăng nhanh, mở rộng đô thị thiếu kiểm soát, quy hoạch hạ tầng cơ sở (đặc biệt hệ thống tiêu thoát nước) không theo kịp tốc độ phát triển, ý thức của một bộ phận dân cư về bảo vệ môi trường nước và xử lý rác thải còn hạn chế...
Hai là, BĐKH-NBD và các tác động xung quanh ngày càng gia tăng, như mực nước đỉnh triều cường trong 20 năm qua đã tăng trung bình 15-20 cm; mưa trận gây ngập xuất hiện với tần suất, cường suất và tổng lượng ngày càng cao; tình hình lũ và xả lũ từ thượng lưu diễn biến phức tạp; tác động từ lũ vùng ĐBSCL sang khu vực TP Hồ Chí Minh có xu thế tăng.
Ba là, các quy hoạch chống ngập nước triển khai không đồng bộ. Mặc dù chưa có quy hoạch tổng thể kiểm soát ngập nước toàn vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai nhưng đã xây dựng quy hoạch nội vùng theo QH-752, quy hoạch ngoại vùng theo QH-1547. Có thể thấy, chiến lược tổng thể còn nhiều bất cập, sự phối/kết hợp các quy hoạch/các vùng tuy có đặt ra nhưng còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong khâu thiết kế và xem xét tác động của BĐKH-NBD, lũ thượng lưu.
Bốn là, TP Hồ Chí Minh có tiềm năng khoa học và công nghệ lớn, đội ngũ các chuyên gia, nhà khoa học đông đảo. Tuy nhiên, việc sử dụng các tiềm năng này còn hạn chế và bất cập. Chống ngập nước đối với TP Hồ Chí Minh là một vấn đề rất lớn và phức tạp, cần huy động sự đóng góp, tham gia của toàn xã hội. Song, khi có quá nhiều “chuyên gia”, quá nhiều “ý tưởng”, quá nhiều “ý kiến”..., thì TP hình như lại gặp nhiều “khó khăn” để định hình một chiến lược kiên định cho vấn đề chống ngập nước.
Năm là, do nhiều khó khăn về nguồn vốn, các công trình theo quy hoạch được xây dựng thường không theo kịp tiến độ, không đồng bộ, thiết kế và chất lượng cũng có vấn đề. Nhiều hệ thống chưa xây dựng vòng ngoài (cống chính, trục thoát) đã xây dựng bên trong (cống cấp 3, 4), nên không phát huy được tác dụng, thậm chí tác động tiêu cực. Nhiều công trình hạ tầng khác do thi công chậm, sự phối hợp với thoát nước không tốt, cũng nảy sinh ngập theo kiểu cục bộ, tái phát, tăng nặng... Sự phân cấp quản lý và phối hợp giữa các cấp/ngành trong chống ngập nướccòn bị động, chưa chặt chẽ.
Sáu là, TP Hồ Chí Minh có địa hình nhìn chung thấp, thậm chí thấp hơn mực nước đỉnh triều cường, cộng với hệ thống kênh rạch đan dày, bị chi phối mạnh bởi 3 sông là Đồng Nai/Nhà Bè, Sài Gòn và Vàm Cỏ, nên có chế độ thủy văn - thủy lực cực kỳ phức tạp, với các dạng tác động 1 nguồn, 2 nguồn và đa nguồn từ dòng chảy sông/dòng triều/truyền triều, chưa kể mưa, nên việc kiểm soát ngập nước càng thêm khó khăn.
Bảy là, ngoại trừ mưa do áp thấp nhiệt đới hay do bão, khu vực TP Hồ Chí Minh thường có dạng mưa giông nhiệt/mưa đối lưu trên nền gió mùa tây nam mạnh lên khi gặp các cao áp lạnh, các khối mây dông..., nên có khi mưa lớn trên diện rộng (toàn TP) hoặc có khi chỉ mưa trên từng khu vực hẹp, nhưng đều có cường suất và lượng mưa cao. Điều này dẫn đến các hệ thống công trình và hệ thống vận hành/điều hành chống ngập nước phải vừa mang tính tổng thể, vừa mang tính cục bộ, có tính linh hoạt cao, nếu không sẽ luôn tiềm ẩn nguy cơ ngập nước.
Giải pháp nào để chống ngập nước?
Như đã đề cập, nguyên nhân gây ngập nước ở TP Hồ Chí Minh thì nhiều, ý tưởng chống ngập cũng không ít, các dự án chống ngập cơ bản đã hình thành, một số công trình chống ngập cũng đã, đang và sẽ tiếp tục được xây dựng ở các quy mô, hình thức công trình cũng đa dạng, từ hệ thống cống lớn, trạm bơm tiêu, cống/van/phay ngăn triều, đê/bờ bao ven sông/rạch, đến nạo vét các trục tiêu chính, xây hồ điều tiết, xác định cốt nền xây dựng... Bên cạnh đó, các giải pháp phi công trình cũng được triển khai (xây dựng mạng giám sát, dự báo, cảnh báo ngập, nâng cao năng lực quản lý rủi ro ngập nước, xây dựng ngân hàng dữ liệu ngập, bản đồ ngập, cơ chế chính sách, đào tạo nguồn nhân lực, mua sắm trang thiết bị, quy trình vận hành...), tuy nhiên, tổng hợp các giải pháp và công trình hiện nay và dự kiến thực hiện, cho thấy:
1) Cần sớm xây dựng chiến lược/quy hoạch tổng thể kiểm soát ngập lụt vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai (trong chiến lược quản lý tổng hợp lưu vực sông Đồng Nai). Từ đó, rà soát lại quy hoạch chống ngập nước cho khu vực TP Hồ Chí Minh và các vùng/lưu vực tiêu thoát nước.
2) Kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, đánh giá lại các kịch bản BĐKH-NBD, đặc biệt cho khu vực TP Hồ Chí Minh; khảo sát và chính xác hóa cao độ các trạm thủy văn Phú An, Nhà Bè và Thủ Dầu Một; đánh giá tình hình sụt lún địa hình trên toàn TP.
3) Rà soát, xem xét và điều chỉnh quy mô, kích thước, tiến độ các hạng mục công trình và hệ thống công trình theo hướng từ ngoài vào trong, từ tổng thể đến chi tiết, từ cấp thành phố đến cấp quận/huyện, phường/xã, hoàn chỉnh hệ thống cống tiêu các cấp, kết hợp tốt, nhuần nhuyễn và linh hoạt các biện pháp/công trình/hạng mục công trình trong cùng một hệ thống. Rà soát, điều chỉnh hệ thống cốt nền linh hoạt, phù hợp với từng khu vực, địa hình và các giải pháp chống ngập tương ứng.
4) Cần xem xét đồng bộ hóa các biện pháp/công trình trong một hệ thống tiêu như cống ngăn triều, cống ngăn nước ngoại lai, trạm bơm tiêu, đê bao ven sông, nạo vét kênh rạch, phát triển cống các cấp, hồ điều hòa, biện pháp tăng khả năng trữ/giữ nước trên đường phố/công viên/hộ dân..., nhằm tăng hiệu quả tổng thể.
5) Trong tất cả các công trình, cần xác định rõ các công trình chiến lược cần ưu tiên, có tính chất quyết định đến chống ngập nước, và các công trình bổ trợ có tác dụng tăng khả năng giảm ngập, các công trình phát huy hiệu quả trước mắt, công trình cần đầu tư sau... để từ đó có chiến lược và kế hoạch đầu tư hợp lý trên cơ sở nguồn vốn dự kiến.
6) Xem xét kỹ khả năng, quy mô, vị trí và hiệu quả của các hồ điều tiết. Cần lưu ý hồ điều tiết chỉ phát huy tác dụng khi được kết nối tốt với khu vực tiêu và nguồn tiếp nhận tiêu, cũng như khả năng “vận hành” trong cả mùa khô để tránh ô nhiễm. Kết hợp các công trình/hạng mục trong cùng một hệ thống hạ tầng theo hướng tích hợp từ mục tiêu, nhiệm vụ, thiết kế, thi công..., đến nguồn vốn, đầu tư, quản lý, vận hành...
7) Nâng cao, hoàn chỉnh bộ máy và tổ chức chống ngập, từ quy hoạch/quản lý quy hoạch, thiết kế/thi công, quản lý dự án, vận hành hệ thống... đến thực thi hiệu quả các giải pháp phi công trình, như xây dựng cơ chế, chính sách, tuyên truyền vận động, mạng quan trắc/giám sát, chia sẻ thông tin, dự báo, cảnh báo, giáo dục đào tạo, nâng cao ý thức người dân...
Trước mắt, các giải pháp chính cần thực hiện là: i) Tập trung chống lấn chiếm hệ thống sông, rạch, ao hồ, cống thoát nước; ii) Tập trung đầu tư các công trình ngăn triều trọng yếu; iii) Xem xét xây dựng các công trình ngăn nước ngoại lai vào các khu tiêu; iv) Nạo vét, mở rộng các trục tiêu chính; hoàn thiện đồng bộ từng hệ thống cống các cấp; kết hợp nạo vét trục tiêu với xây dựng các tuyến đê bao và chỉnh trang đô thị.

Nguyễn Ngọc Anh
Nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam

 

 

 

 

Hình ảnh hoạt động

Liên kết website