Bình duyệt đạo đức nghiên cứu trong đào tạo tiến sỹ ở Vương quốc Anh

Email In PDF

Trong các chương trình đào tạo tiến sỹ ở Vương quốc Anh, những người mới bắt đầu sự nghiệp học thuật như nghiên cứu sinh phải đáp ứng các yêu cầu của hệ thống bình duyệt đạo đức nghiên cứu (ĐĐNC) của cơ sở đào tạo trên nền tảng quy chuẩn chung, có tính quốc tế. Bài viết trình bày một số nét chính của hệ thống bình duyệt ĐĐNC trong đào tạo tiến sỹ ở đất nước này. Trong xu thế hội nhập quốc tế, đây có thể là những kinh nghiệm hữu ích cho những nhà hoạch định chính sách về giáo dục và khoa học.

Vai trò của ĐĐNC
“ĐĐNC là hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo cách thức mà mọi nghiên cứu có sự tương tác giữa nhà nghiên cứu và những người khác hoặc dữ liệu liên quan tới con người được thiết kế, quản lý và thực thi. Trong quá trình chuẩn bị một dự án nghiên cứu, phẩm giá, quyền, sự an toàn và an sinh của những người tham gia phải luôn được cân nhắc, tôn trọng và bảo vệ” [1]. R.G. Burgess (1989) [2] nhận xét rằng, trong khi có nhiều công trình nghiên cứu khoa học xã hội và giáo dục bàn về thiết kế, thu thập và phân tích dữ liệu nghiên cứu, tức là tập trung vào các quy trình kỹ thuật nghiên cứu, lại có ít công trình đặt ra các câu hỏi về mặt đạo đức trong khi tiến hành nghiên cứu xã hội. Có thể thấy, từ những năm 1980 đến nay, ĐĐNC là chủ đề được bàn luận nhiều trong nghiên cứu khoa học xã hội và giáo dục ở Anh [3-7].
Bình duyệt ĐĐNC là hoạt động chuyên môn nhằm giúp người nghiên cứu suy nghĩ thấu đáo các vấn đề về đạo đức, từ đó chỉ ra cách thức giải quyết chúng. Khi thực hiện các thủ tục bình duyệt ĐĐNC, rủi ro và lợi ích đối với cả người tham gia nghiên cứu và tác giả nghiên cứu cũng được cân nhắc. Các nguyên tắc thực hiện nghiên cứu khuyến khích các bên liên quan với đề tài xem xét những hệ quả sâu xa của công trình và những thách thức về chuyên môn, đạo đức, thực tế nhằm đạt được chất lượng nghiên cứu cao. Với ý nghĩa đó, quan điểm này không chỉ được áp dụng trong nghiên cứu khoa học xã hội mà trong tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khác.
Quy trình và nội dung bình duyệt
Trong các chương trình đào tạo tiến sỹ tại Anh, các nghiên cứu sinh đều trải qua quy trình bình duyệt hồ sơ ĐĐNC, tức là các khía cạnh đạo đức của đề tài sẽ được bình duyệt bởi một bộ phận chuyên trách có tên là Hội đồng ĐĐNC nhà trường. Hội đồng này có trách nhiệm bình duyệt các hồ sơ và chuyển tới các hội đồng cấp cơ sở như Hội đồng ĐĐNC Khoa. Thỏa mãn các yêu cầu của Hội đồng các cấp là điều kiện bắt buộc để nghiên cứu sinh bảo vệ luận án. Lấy ví dụ tại Đại học Leeds, thành viên Hội đồng ĐĐNC Khoa thường bao gồm các giảng viên, nghiên cứu viên cao cấp, đại diện sinh viên và các thành viên ngoài chuyên môn. Hầu hết hội đồng cấp khoa, thực ra là liên khoa (chẳng hạn Khoa Giáo dục sẽ liên kết với Khoa Khoa học xã hội và Khoa Luật). Ngoài ra, do đặc thù chuyên ngành nên khoa Y, Sinh và Dược có một quy trình bình duyệt riêng.
Theo quy định, nghiên cứu sinh cần nộp hồ sơ này ít nhất 6 tuần trước khi triển khai đề tài. Hội đồng ĐĐNC có trách nhiệm bình duyệt hồ sơ. Tuy nhiên, đây không phải là hoạt động một chiều (không phải bên đệ trình thụ động chờ đợi bên ra quyết định). Trong 6 tuần đó, nghiên cứu sinh có thể điều chỉnh, sửa chữa hay cung cấp thêm thông tin theo yêu cầu của Hội đồng. Tinh thần làm việc chủ đạo trong giai đoạn này là nghiên cứu sinh tiếp nhận, trao đổi, phản biện và phúc đáp ý kiến của Hội đồng để hoàn thiện hồ sơ trước khi được ký duyệt. Bình duyệt hồ sơ ĐĐNC không phải nhằm tạo thêm khó khăn hay thách đố người nghiên cứu, cũng không phải là quy trình hành chính cồng kềnh. Trái lại, nó giúp người nghiên cứu tiên liệu những thách thức về mặt đạo đức đối với nghiên cứu của mình, qua đó đảm bảo chất lượng nghiên cứu phù hợp với các nguyên tắc đạo đức trong học thuật.
Hồ sơ mà nghiên cứu sinh nộp cho Hội đồng gồm hai phần: Phần chính (phê bình ĐĐNC do nghiên cứu sinh tự viết dựa trên ý kiến xây dựng, phản hồi và chấp thuận của người hướng dẫn khoa học); Phần bổ trợ (các loại tài liệu do nghiên cứu sinh soạn thảo như: đánh giá rủi ro khảo sát thực tế, thông tin cho người tham gia, bản chấp thuận của người tham gia, các tài liệu khác). Đối với nhiều người mới bắt đầu nghiên cứu, phần phê bình ĐĐNC thường đòi hỏi đầu tư nhiều công sức. Ngoài các thông tin cơ bản về loại hình nghiên cứu, nghiên cứu sinh phải thuyết minh đề tài bằng cách trả lời các câu hỏi một cách cụ thể. Dưới đây là những nội dung cụ thể:
Thông tin chung về đề tài:
- Tóm tắt ý tưởng nghiên cứu: ở phần này, nghiên cứu sinh phải viết bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, sao cho người không có chuyên môn đọc có thể hiểu được, tránh sử dụng quá nhiều từ ngữ chuyên sâu. Yêu cầu này là thiết thực bởi lẽ khi bàn về vấn đề đạo đức của đề tài, người làm khoa học phải diễn đạt một cách giản dị, trong sáng nhất để người ngoài giới chuyên môn hiểu được thông điệp của mình, không thể viện lẽ vì tính chuyên môn mà phớt lờ ý kiến đánh giá của người ngoài giới.
- Những vấn đề về ĐĐNC của đề tài và cách giải quyết.
- Sự chấp thuận của người tham gia nghiên cứu trên cơ sở được cung cấp thông tin.
- Vấn đề bảo mật và ẩn danh người tham gia/tổ chức tham gia.
- Quyền riêng tư và lưu trữ dữ liệu.
Nhân sự của đề tài:
Phần này cung cấp các thông tin như tên, học vị, chức vụ, địa chỉ liên lạc của những người tham gia, gồm bản thân nghiên cứu sinh và người hướng dẫn khoa học.
Chi tiết đề tài:
- Mục tiêu của đề tài.
- Mô thức nghiên cứu của đề tài. Phần này cũng đòi hỏi nghiên cứu sinh mô tả phương pháp nghiên cứu bằng văn phong đơn giản, dễ hiểu, người ngoài chuyên môn hiểu được.
- Người tham gia nghiên cứu sẽ được yêu cầu làm gì (ví dụ, số lần tiếp xúc, thời gian, việc di chuyển, các cuộc phỏng vấn, thử nghiệm).
- Đề tài có được tiến hành ở nước ngoài không? Nếu có, hãy mô tả quy trình bình duyệt đạo đức theo quy định của nước đó.
- Mô tả các biện pháp giải quyết các vấn đề liên quan tới quy trình bình duyệt đạo đức của nước đề cập trên (kèm theo bản sao thư chấp thuận/chứng nhận, nếu có).
- Thời điểm, thời lượng dự kiến, địa điểm thực hiện đề tài.
Quy trình tuyển chọn và thỏa thuận với người tham gia nghiên cứu:
Để đảm bảo người tham gia nghiên cứu không bị dụ dỗ, ép buộc, nghiên cứu sinh cần thuyết minh các nội dung sau:
- Người tham gia nghiên cứu sẽ được xác định, tiếp cận và tuyển chọn như thế nào?
- Nghiên cứu sinh có loại trừ nhóm người nào không? Nếu có, nghiên cứu sinh phân tích lý do loại trừ.
- Số lượng người tham gia nghiên cứu sẽ được tuyển chọn và căn cứ quyết định số lượng đó? Nếu nghiên cứu sinh quảng cáo tuyển chọn người tham gia nghiên cứu thì nộp kèm hồ sơ cả áp phích, email quảng cáo dự tính sử dụng.
- Đề tài có liên quan yếu tố nào về đánh lừa người tham gia không? Nếu có, giải thích vì sao cần làm vậy và người tham gia có được thông báo khi kết thúc nghiên cứu không?
- Nghiên cứu sinh cung cấp thông tin và đạt được sự đồng thuận của người tham gia nghiên cứu như thế nào? Mô tả chi tiết các bước tiến hành, đính kèm các bản cung cấp thông tin và thỏa thuận sẽ gửi cho người tham gia.
- Mô tả các khả năng người tham gia nghiên cứu rút khỏi nghiên cứu. Nếu người tham gia không được rút khỏi nghiên cứu sau khi đã chấp thuận, hãy giải thích tại sao.
- Người tham gia sẽ mất bao lâu để đưa ra quyết định tham gia nghiên cứu?
- Cách sắp xếp, làm việc đối với người tham gia không hiểu đầy đủ thông tin ở dạng nói và viết hoặc người tham gia có nhu cầu đặc biệt về giao tiếp (ví dụ: biên dịch, sử dụng thông dịch viên).
- Các cuộc phỏng vấn hoặc bảng hỏi có bàn luận những chủ đề, vấn đề nhạy cảm, gây xấu hổ hay khó chịu cho người được hỏi không? Có khả năng tiết lộ tội phạm hay những dạng tiết lộ khác đòi hỏi phải có biện pháp nhất định trong quá trình nghiên cứu không?
- Người tham gia nghiên cứu có nhận bất kỳ khoản thù lao, phí, hoàn trả chi phí hay khuyến khích bằng vật chất hoặc lợi ích gì vì tham gia đề tài không? Nếu có, người nghiên cứu mô tả số lượng, tổng giá trị, kích cỡ các phương thức khuyến khích bằng vật chất và căn cứ quyết định chúng.
Dữ liệu của đề tài:
- Nghiên cứu sinh sẽ làm cách nào để đảm bảo tính bảo mật và an toàn dữ liệu cá nhân? Chẳng hạn, quy trình làm ẩn danh người tham gia nghiên cứu, quá trình lưu trữ và mã hóa dữ liệu.
- Nghiên cứu sinh dự định công bố, phổ biến kết quả nghiên cứu như thế nào?
- Dữ liệu của đề tài sẽ được lưu trữ trong bao lâu? Giải thích tại sao chọn thời lượng đó.
Xung đột lợi ích:
- Nghiên cứu sinh hay cơ quan của nghiên cứu sinh có nhận bất kỳ lợi ích nào khác khi tham gia vượt trên mức lương bình thường hay chi phí tiến hành đề tài này không? Nếu có, cần chỉ ra số tiền và căn cứ quyết định.
- Đề tài có liên quan nguồn tài trợ nào bên ngoài không?
- Những xung đột lợi ích khác có khả năng xảy ra không? Ví dụ, kết quả nghiên cứu có thể ảnh hưởng mối quan hệ đang tiếp diễn giữa các cá nhân hay tổ chức liên quan với nghiên cứu sinh không? Phía tài trợ nghiên cứu sẽ có quyền kiểm soát việc công bố, xuất bản kết quả nghiên cứu không? Nếu có, hãy mô tả xung đột tiềm tàng, và phác thảo các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề về đạo đức có thể nảy sinh từ đề tài.

Đánh giá rủi ro khảo sát thực tế
Một công việc người nghiên cứu phải hoàn tất cùng lúc đệ trình Hồ sơ ĐĐNC là đánh giá rủi ro của nghiên cứu. Nghĩa là, nghiên cứu sinh phải đánh giá những lợi ích và/hoặc rủi ro tiềm ẩn đối với người tham gia nghiên cứu và chính mình. Việc này sẽ được trình bày cụ thể trong bản đánh giá rủi ro khảo sát thực tế giải quyết các vấn đề như kế hoạch di chuyển, bản chất, đặc điểm thực địa, kế hoạch triển khai các hoạt động tại thực địa, các nguy cơ về sức khỏe, khác biệt văn hóa, bất ổn chính trị... và các biện pháp cụ thể để phòng ngừa, xử lý các vấn đề đó.
Thông thường, sau khi hoàn thành phê bình ĐĐNC, nghiên cứu sinh mới viết phần đánh giá rủi ro được. Tùy tính chất đề tài, nghiên sứu sinh sử dụng 1 trong 3 mẫu đánh giá tương ứng 3 mức độ: rủi ro cao, trung bình, thấp. Những đề tài nghiên cứu nhạy cảm như khủng bố, nghiên cứu tại nơi có bất ổn chính trị - xã hội, làm việc với nhóm người dễ bị tổn thương thường đòi hỏi người nghiên cứu đánh giá rủi ro rất công phu.
Đối với những nghiên cứu thuộc mức rủi ro thấp, tuy bản đánh giá không đòi hỏi dung lượng lớn nhưng để làm đúng phải hiểu đúng mục đích, bản chất của việc đánh giá rủi ro. Đó chính là các vấn đề liên quan đến sức khỏe, an sinh, an toàn. Ví dụ, lời khuyên của tổ chức y tế cho người nước ngoài đến Việt Nam là tiêm vắc-xin sởi, quai bị, rubella, bạch hầu, thương hàn, viêm gan A. Ngoài ra, tình hình virus Zika, nguy cơ bệnh sốt rét… cũng được cập nhật và nếu muốn triển khai nghiên cứu thực địa ở Việt Nam thì nghiên cứu sinh cần phải lưu ý tất cả những điều này.
Khi hoàn thành tất cả các việc trên, nghiên cứu sinh nộp hồ sơ qua email cho Hội đồng ĐĐNC nhà trường. Thời gian hoàn tất hồ sơ bình duyệt có thể lên đến 6 tuần. Thông thường giai đoạn bình duyệt sơ bộ mất 2-3 tuần và nghiên cứu sinh sẽ được thông báo ngay khi Hội đồng bình duyệt xong. Bình duyệt có thể kéo dài hơn đối với những hồ sơ phức tạp.

Nguyễn Thị Hạ Ni
Khoa Giáo dục, Đại học Leeds, Vương quốc Anh


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] University of Manchester (2018), What is research ethics, Retrieved 14 September 2018, from http://www.staffnet.manchester.ac.uk/services/rbess/governance/ethics/what-is-research-ethics/
[2] R.G. Burgess (1989), The ethics of educational research, London.
[3] M. Bulmer (1980), "Comment on ‘The ethics of covert methods’", British Journal of Sociolgy, 31(1), pp.59-65.
[4] M. Bulmer (1982), Social research ethics. London: Macmillan.
[5] M. Punch (1986), The politics and ethics of fieldwork, Beverly Hills; London.
[6] J.E. Sieber (1992), Planning ethically responsible research: A guide for students and internal review boards, London.
[7] M. McNamee (2002), "Introduction: whose ethics, which research. In M. McNamee & D. Bridges (Eds.)", The Ethics of Educational Research, pp.1-22.

 

 

 

Hình ảnh hoạt động

Liên kết website

logo petech